Tóm tắt nhanh: Một thửa đất có ba loại giá cùng tồn tại: giá thị trường, giá theo Bảng giá đất của tỉnh, và giá ngân hàng thẩm định. Ba con số này khác nhau là bình thường, vì chúng phục vụ ba mục đích khác nhau. Lấy nhầm loại này để cãi loại kia là chỗ tranh luận hay bế tắc.
Nội dung bài viết
- Một thửa đất có mấy loại giá?
- Bảng giá đất dùng vào việc gì?
- Cách tự ra con số cho thửa của bạn
- Vì sao cùng một tuyến đường lại nhiều mức giá?
- Ba con số nào hay bị lẫn khi tính?
- Định giá nhà có khác định giá đất không?
- Ba sai lầm nào hay gặp khi tự tính?
- Đất nông nghiệp tính giá khác đất ở ra sao?
- Giá đất thay đổi khi nào?
- Ai định giá chuyên nghiệp, và khi nào cần?
- Người bán nên định giá thế nào cho hợp lý?
- Ba việc làm được ngay
Câu hỏi “đất này bao nhiêu một mét vuông” nghe như một câu hỏi có một đáp án. Thật ra nó có ba, và ba đáp án đó đều đúng trong phạm vi của mình.
Người mua nói một con số. Cơ quan thuế dùng một con số khác. Ngân hàng lại đưa ra con số thứ ba. Không ai nói dối cả.
Bài này chỉ ra ba loại đó là gì, dùng vào việc gì, và cách bạn tự ra con số của mình.
Một thửa đất có mấy loại giá?

| Loại giá | Dùng để làm gì | Ai quyết |
|---|---|---|
| Giá thị trường | thương lượng mua bán | người mua và người bán gặp nhau |
| Bảng giá đất của tỉnh | tính nghĩa vụ tài chính với nhà nước | Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành |
| Giá ngân hàng thẩm định | quyết định bạn vay được bao nhiêu | ngân hàng |
Ba con số này gần như không bao giờ bằng nhau, và điều đó bình thường.
Giá thị trường lên xuống theo cung cầu, theo tin quy hoạch, theo tâm lý. Nó là con số bạn thực sự trả.
Bảng giá đất do tỉnh ban hành và giữ ổn định trong một thời kỳ. Nó không nhằm phản ánh giá giao dịch, mà nhằm làm căn cứ tính thuế và lệ phí.
Giá ngân hàng thẩm định thường thấp hơn giá thị trường, vì ngân hàng tính theo giá bán được trong tình huống xấu. Tài sản đó là thứ họ phải xử lý nếu khoản vay hỏng.
Biết mình đang nói về loại nào là bước đầu tiên. Rất nhiều cuộc thương lượng bế tắc chỉ vì hai bên đang cầm hai loại giá khác nhau.
Bảng giá đất dùng vào việc gì?
Vào việc tính tiền phải nộp cho nhà nước. Không phải vào việc định giá giao dịch.
Cụ thể, nó là căn cứ để tính lệ phí trước bạ phần đất. Công thức nằm ở điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư 13/2022/TT-BTC:
Diện tích đất chịu lệ phí trước bạ nhân với giá một mét vuông đất tại Bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Ra được giá tính lệ phí trước bạ rồi thì nhân mức thu. Mức thu là 0,5%, tối đa 500 triệu đồng cho một tài sản một lần trước bạ, theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 10/2022/NĐ-CP.
Đây là chỗ nhiều người bất ngờ: tiền lệ phí trước bạ không tính trên giá bạn mua, mà tính trên Bảng giá đất. Hai con số đó có thể chênh nhau khá nhiều.
Chúng tôi tách riêng cách tính từng khoản ở bài lệ phí trước bạ nhà đất.
Cách tự ra con số cho thửa của bạn

Bốn bước, làm trong một buổi. Không cần công cụ trả phí.
Bước một: lấy giá theo Bảng giá đất.
Tra Bảng giá đất của tỉnh, thành phố nơi có thửa. Bảng này công bố công khai. Tìm đúng tuyến đường và đúng vị trí, vì cùng một tuyến đường thường chia nhiều vị trí với mức khác nhau.
Nhân với diện tích ghi trên giấy chứng nhận. Chú ý là diện tích công nhận, không phải diện tích bạn đo được ngoài thực địa. Hai con số này có thể khác nhau, và phần chênh không có giá trị pháp lý.
Bước hai: lấy giá thị trường.
Không lấy từ một tin rao. Lấy từ ba nguồn rồi so:
Vài tin rao cùng tuyến, cùng diện tích, cùng loại đất. Nhớ rằng giá rao thường cao hơn giá chốt.
Hỏi hai ba môi giới trong khu, và hỏi câu này: “Sáu tháng qua khu này có giao dịch nào không, và chốt ở khoảng bao nhiêu?” Câu hỏi về giao dịch đã xong cho ra số thật hơn câu hỏi về giá rao.
Hỏi hàng xóm, nếu tiện. Người ở đó thường biết ai vừa bán và bán bao nhiêu.
Bước ba: lấy giá ngân hàng thẩm định.
Chỉ cần khi bạn định vay. Gọi cho ngân hàng, nói rõ địa chỉ và diện tích, hỏi họ định giá khoảng bao nhiêu và cho vay tối đa bao nhiêu phần trăm.
Làm bước này trước khi chốt giá, không phải sau. Đây là lỗi phổ biến: chốt giá rồi mới phát hiện phần vay hụt so với tính toán.
Bước bốn: đặt ba con số cạnh nhau.
Bạn sẽ thấy khoảng cách giữa chúng, và biết mình đang ở đâu. Ba con số này phục vụ ba việc khác nhau, đừng trộn.
Vì sao cùng một tuyến đường lại nhiều mức giá?

Vì vị trí trong tuyến khác nhau, và vì đặc điểm của từng thửa khác nhau.
Năm yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất tới giá một mét vuông:
Mặt tiền hay trong hẻm. Chênh lệch giữa hai vị trí này thường là chênh lệch lớn nhất trong mọi yếu tố.
Độ rộng hẻm. Hẻm xe hơi vào được khác hẳn hẻm chỉ đi xe máy. Đây là ngưỡng tạo bước nhảy về giá.
Hình dạng thửa. Thửa vuông vắn dễ xây và dễ bán hơn thửa méo. Thửa nở hậu và thửa thóp hậu cũng được nhìn khác nhau.
Chiều ngang mặt tiền. Với đất xây nhà phố, chiều ngang quyết định công năng nhiều hơn tổng diện tích.
Pháp lý và quy hoạch. Thửa dính lộ giới quy hoạch có phần diện tích không xây được, và phần đó ảnh hưởng thẳng tới giá.
Đây là lý do không thể lấy giá của căn bên cạnh rồi áp thẳng sang căn của mình. Hai thửa cách nhau vài mét vẫn có thể chênh nhau đáng kể.
Ba con số nào hay bị lẫn khi tính?

Một: diện tích công nhận và diện tích thực tế.
Con số ghi trên giấy chứng nhận là phần Nhà nước công nhận. Phần khuôn viên lớn hơn không có giá trị pháp lý, dù vẫn đang được sử dụng. Người bán thường báo giá trên diện tích thực tế, còn ngân hàng và người mua tiếp theo tính trên diện tích công nhận.
Hai: diện tích đất và diện tích sàn.
Với nhà, hai con số này khác nhau hoàn toàn. Giá một mét vuông đất và giá một mét vuông sàn xây dựng là hai thứ, không quy đổi thẳng cho nhau được.
Ba: giá có gồm nhà hay không.
Khi thửa có nhà trên đất, giá trị gồm cả đất lẫn công trình. Điều này ảnh hưởng cả tới thương lượng lẫn tới cách tính phí công chứng, vì căn cứ tính khi đó là tổng giá trị quyền sử dụng đất cộng giá trị tài sản gắn liền.
Ba chỗ lẫn này gây ra phần lớn tranh cãi về giá. Làm rõ từ đầu thì cuộc thương lượng gọn hơn nhiều.
Định giá nhà có khác định giá đất không?
Khác, vì có thêm một phần biến động theo thời gian.
Giá trị của công trình xây dựng giảm dần theo tuổi và theo chất lượng còn lại. Đất thì không giảm theo tuổi.
Nghĩa là với một căn nhà, bạn đang định giá hai thứ chồng lên nhau: phần đất và phần công trình. Phần đất theo vị trí, phần công trình theo tuổi và chất lượng.
Với nhà cũ, phần công trình có khi gần bằng không, và bạn thực chất đang mua đất. Với nhà mới xây, phần công trình chiếm tỷ trọng đáng kể.
Cách kiểm nhanh: ước phần đất theo Bảng giá đất và theo giá thị trường của khu, rồi xem phần chênh còn lại có hợp lý với tuổi và tình trạng của căn nhà không.
Ba sai lầm nào hay gặp khi tự tính?
Sai lầm một: lấy giá rao làm giá thị trường.
Giá rao là giá bên bán mong muốn. Giá chốt mới là giá thị trường. Khoảng cách giữa hai con số này thay đổi theo thời kỳ, và rộng nhất khi thị trường chậm.
Sai lầm hai: dùng Bảng giá đất để thương lượng.
Bảng giá đất phục vụ việc tính nghĩa vụ tài chính, không phải để định giá giao dịch. Mang con số đó ra bàn thương lượng thường không đi tới đâu.
Sai lầm ba: bỏ qua bước hỏi ngân hàng.
Nếu bạn định vay, giá ngân hàng thẩm định mới là con số quyết định bạn xoay được bao nhiêu tiền. Hỏi trước khi chốt giá.
Đất nông nghiệp tính giá khác đất ở ra sao?
Khác hẳn, và đây là chỗ người mua lần đầu hay bị nhầm nặng nhất.
Bảng giá đất của tỉnh chia theo loại đất. Giá một mét vuông đất ở và giá một mét vuông đất nông nghiệp cùng vị trí chênh nhau rất nhiều lần.
Nghĩa là nếu thửa bạn đang xem ghi mã CLN hoặc LUC, tức đất nông nghiệp, thì mọi phép tính theo giá đất ở đều sai ngay từ đầu.
Ba việc phải làm trước khi tính giá một thửa:
Đọc mục mục đích sử dụng đất trên giấy chứng nhận. Đất ở ghi mã ONT hoặc ODT.
Nếu là đất nông nghiệp mà bên bán nói sẽ lên thổ cư được, hỏi căn cứ. Việc chuyển mục đích phải nằm trong quy hoạch đã duyệt và phải được cơ quan nhà nước cho phép, không phải cứ nộp tiền là xong.
Nếu thửa có nhiều loại đất trong cùng một sổ, tách riêng diện tích từng loại rồi tính riêng. Đây là tình huống rất phổ biến với đất vườn có nhà.
Chúng tôi phân tích riêng phần này ở bài đất thổ cư là gì và bài chuyển mục đích sử dụng đất.
Giá đất thay đổi khi nào?
Bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và có thời kỳ áp dụng. Khi bảng mới có hiệu lực, con số dùng để tính nghĩa vụ tài chính thay đổi theo.
Điều này có ảnh hưởng thực tế: cùng một giao dịch, làm thủ tục trước hay sau ngày bảng mới có hiệu lực có thể ra hai số tiền phải nộp khác nhau.
Ba việc nên làm khi thấy sắp có bảng giá mới:
Kiểm ngày hiệu lực của bảng mới, và so với tiến độ hồ sơ của bạn.
Hỏi cơ quan thuế nơi có thửa đất xem trường hợp của bạn áp bảng nào. Đây là câu họ trả lời chính xác nhất.
Đừng vội kết luận bảng mới luôn bất lợi. Nó thay đổi cả căn cứ tính lẫn mức, và tác động tuỳ từng trường hợp.
Giá thị trường thì thay đổi liên tục và không theo lịch. Đó là lý do một con số giá thị trường luôn phải kèm mốc thời gian, chứ không có giá trị nếu nói khơi khơi.
Ai định giá chuyên nghiệp, và khi nào cần?
Ba trường hợp nên nhờ đơn vị thẩm định giá thay vì tự tính.
Khi tài sản lớn và bạn đang vay nhiều. Chênh lệch vài phần trăm trên một tài sản lớn là số tiền đáng kể, và ngân hàng cũng sẽ có thẩm định riêng.
Khi chia tài sản. Thừa kế, ly hôn, hoặc góp vốn. Trong những trường hợp này, con số cần một bên thứ ba độc lập đưa ra, không nên do một bên trong cuộc tính.
Khi có tranh chấp. Lúc đó chứng thư thẩm định giá là tài liệu dùng được, còn con số tự tính thì không.
Với giao dịch mua bán thông thường, ba bước tự tính ở mục trên là đủ để bạn không bị hớ.
Người bán nên định giá thế nào cho hợp lý?
Đây là phía ít được viết tới, dù người bán cũng cần con số.
Ba lỗi hay gặp của người bán:
Lấy giá cao nhất từng nghe trong khu làm mốc. Con số đó thường là giá rao chứ không phải giá chốt, và có khi là của thửa đẹp hơn hẳn.
Không tính tới thời gian. Rao cao hơn mặt bằng thì vẫn bán được, nhưng lâu hơn. Nếu bạn cần tiền trong ba tháng, một mức giá cần một năm để bán là mức giá sai với bạn.
Bỏ qua điểm yếu của tài sản. Diện tích công nhận nhỏ hơn thực tế, hẻm nhỏ, hoặc dính lộ giới. Người mua sẽ phát hiện, và phát hiện muộn thì cuộc thương lượng đổ vỡ giữa chừng.
Cách làm gọn cho người bán: xác định hai con số. Một là mức bạn muốn, một là mức thấp nhất bạn chấp nhận. Rồi định thời hạn. Ba tháng chưa có ai hỏi thì mức bạn muốn đang cao hơn thị trường, không phải thị trường đang sai.
Câu hỏi thường gặp
Cách tính giá đất theo m2 thế nào?
Tuỳ bạn cần loại giá nào. Giá theo Bảng giá đất thì tra bảng của tỉnh rồi nhân diện tích công nhận. Giá thị trường thì lấy từ ba nguồn rồi so. Giá ngân hàng thì hỏi trực tiếp ngân hàng.
Vì sao giá trên Bảng giá đất thấp hơn giá mua bán?
Vì hai loại giá phục vụ hai mục đích khác nhau. Bảng giá đất là căn cứ tính nghĩa vụ tài chính, không nhằm phản ánh giá giao dịch.
Lệ phí trước bạ tính trên giá nào?
Trên giá tính lệ phí trước bạ, tức diện tích nhân giá một mét vuông trong Bảng giá đất, rồi nhân mức thu 0,5%. Không tính trên giá bạn mua.
Đất trong hẻm tính giá thế nào?
Bảng giá đất của tỉnh thường chia theo vị trí trong tuyến đường, và hẻm thuộc các vị trí sau. Còn giá thị trường thì phụ thuộc mạnh vào độ rộng hẻm, đặc biệt là hẻm xe hơi vào được hay không.
Nhà cũ thì tính giá ra sao?
Tách hai phần: phần đất theo vị trí, phần công trình theo tuổi và chất lượng còn lại. Nhà càng cũ thì phần công trình càng nhỏ trong tổng giá.
Ba việc làm được ngay
- Hôm nay: tra Bảng giá đất của tỉnh nơi có thửa, tìm đúng tuyến và đúng vị trí.
- Trước khi thương lượng: hỏi hai ba môi giới trong khu về giao dịch đã chốt trong sáu tháng qua, không hỏi về giá rao.
- Nếu định vay: gọi ngân hàng hỏi thẩm định trước khi chốt giá.
Bài này không dự báo giá và không đưa mức giá cụ thể cho địa phương nào. Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn tài chính hay tư vấn pháp lý.
Căn cứ: Luật Đất đai 2024, Luật số 31/2024/QH15, hiệu lực 01/8/2024. Nghị định 10/2022/NĐ-CP, khoản 1 Điều 8. Thông tư 13/2022/TT-BTC, điểm a khoản 1 Điều 3.
Để lại một bình luận