🎁 TẶNG BẠN: bộ “15 năm kinh nghiệm mua bán nhà đất” — nhận miễn phí tại mục Quà tặng.
Tóm tắt nhanh: Di chúc viết tay không công chứng vẫn hợp pháp. Khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 chỉ đòi bốn điều kiện: người lập minh mẫn, không bị ép, nội dung không trái luật, hình thức đúng luật. Tự viết thì phải tự tay viết và tự ký.
Nội dung bài viết
- Di chúc viết tay có hợp pháp không?
- Bốn điều kiện để di chúc hợp pháp là gì?
- Một bản di chúc viết tay phải có những mục nào?
- Mẫu di chúc viết tay đầy đủ để chép theo
- Vì sao bản tự viết bắt buộc phải tự tay viết và tự ký?
- Khi nào cần người làm chứng, và ai không được làm chứng?
- Khi nào bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực?
- Công chứng và chứng thực di chúc khác nhau chỗ nào?
- Di chúc miệng có được công nhận không?
- Sáu lỗi làm mất hiệu lực bản di chúc viết tay
- Di chúc có cho hết tài sản cho một người được không?
- Sửa, thay thế và gửi giữ di chúc thế nào?
- Người lập di chúc mất rồi thì gia đình làm gì tiếp
- Ba việc làm được ngay hôm nay
Rất nhiều người lớn tuổi muốn để lại căn nhà cho con cháu nhưng dừng lại ở một câu hỏi: viết tay ra tờ giấy thì có giá trị gì không, hay phải ra phường, ra phòng công chứng mới được tính. Nỗi sợ đó khiến việc bị hoãn hết năm này qua năm khác, và khi người có tài sản mất đi, cả gia đình rơi vào một thủ tục dài gấp nhiều lần.
Bài này trả lời thẳng câu hỏi đó. Bạn có một bản mẫu đầy đủ, chép tay theo được ngay hôm nay, kèm chú thích từng dòng ứng với điều khoản nào. Cuối bài là sáu lỗi thường gặp làm di chúc mất hiệu lực. Toàn bộ căn cứ được đọc nguyên văn ngày 18/9/2026. Nguồn là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Công chứng 2024 trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật của Bộ Tư pháp, cùng bản hợp nhất mới nhất của Nghị định về chứng thực.
Di chúc viết tay có hợp pháp không?

Có. Đây là câu bị hiểu sai nhiều nhất, vì người ta quen nghĩ giấy tờ nhà đất thì phải công chứng mới có giá trị. Với di chúc thì luật nói khác.
- Luật cho phép bốn loại di chúc bằng văn bản. Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê: không có người làm chứng, có người làm chứng, có công chứng, có chứng thực. Bản tự viết tay nằm ở loại thứ nhất và vẫn là một loại di chúc hợp lệ.
- Không công chứng vẫn hợp pháp. Khoản 4 Điều 630 ghi nguyên văn: di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
- Công chứng là quyền, không phải nghĩa vụ. Điều 635 viết người lập di chúc “có thể yêu cầu” công chứng hoặc chứng thực bản di chúc. Từ “có thể” là chìa khoá của cả bài này.
- Chỉ hai trường hợp bắt buộc. Khoản 3 Điều 630 buộc phải có người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực, khi người lập di chúc bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ.
Nói gọn: một người bình thường, còn minh mẫn, biết chữ, tự ngồi viết tay bản di chúc rồi ký vào, thì bản đó có giá trị pháp lý mà không cần đi đâu cả. Cái quyết định không phải con dấu, mà là bốn điều kiện ở mục tiếp theo.
Điều này khác hẳn với hợp đồng mua bán nhà đất. Nếu bạn đang nhầm hai việc với nhau, bài hợp đồng công chứng nhà đất và bài mua nhà giấy tay giải thích vì sao chuyển nhượng thì bắt buộc công chứng còn di chúc thì không.
Bốn điều kiện để di chúc hợp pháp là gì?

Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 gói toàn bộ giá trị của một bản di chúc vào hai điểm a và b. Tách ra thì thành bốn điều kiện, và bốn điều kiện này áp cho cả di chúc viết tay lẫn di chúc đã công chứng.
- Minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc. Điểm a khoản 1 Điều 630. Đây là lý do người cao tuổi nên lập sớm, lúc sức khoẻ còn tốt, thay vì đợi tới lúc nằm viện.
- Không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép. Cũng ở điểm a. Nếu sau này có người chứng minh được bản di chúc ký trong hoàn cảnh bị ép, phần bị ép đó không còn giá trị.
- Nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Điểm b khoản 1. Ví dụ không thể định đoạt tài sản không phải của mình.
- Hình thức không trái quy định của luật. Cũng ở điểm b, và đây là chỗ người tự viết hay vấp, vì hình thức của bản tự viết có yêu cầu riêng ở Điều 631 và Điều 633.
Có một nhóm người đặc biệt: người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi. Khoản 2 Điều 630 buộc di chúc của họ phải lập thành văn bản và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Còn Điều 625 cho người thành niên đủ điều kiện tại điểm a khoản 1 Điều 630 quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
Một bản di chúc viết tay phải có những mục nào?

Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê bốn nội dung chủ yếu. Thiếu một trong bốn, bản di chúc dễ bị coi là không rõ ràng và phải mang ra Toà giải thích theo Điều 648.
- Ngày, tháng, năm lập di chúc. Điểm a khoản 1 Điều 631. Mục này quan trọng hơn người ta tưởng, vì khoản 5 Điều 643 quy định khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản sau cùng có hiệu lực. Không có ngày thì không biết bản nào sau cùng.
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc. Điểm b khoản 1.
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản. Điểm c khoản 1.
- Di sản để lại và nơi có di sản. Điểm d khoản 1. Với nhà đất, nên ghi đủ số giấy chứng nhận, số thửa, số tờ bản đồ, diện tích, đúng như trên sổ.
Khoản 3 Điều 631 còn đặt ba quy tắc trình bày mà bản viết tay hay phạm. Một, di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu. Hai, di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập. Ba, chỗ nào tẩy xoá hoặc sửa chữa thì người tự viết di chúc, hoặc người làm chứng di chúc, phải ký tên bên cạnh chỗ đó.
Muốn ghi đúng phần tài sản, bạn cần đọc được sổ. Bài cách đọc sổ đỏ chỉ từng mục trên giấy chứng nhận, bài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giải thích tên gọi chính thức, còn bài ký hiệu các loại đất giúp bạn chép đúng loại đất ghi trong sổ.
Mẫu di chúc viết tay đầy đủ để chép theo
Dưới đây là bản mẫu viết cho trường hợp phổ biến nhất: một người còn minh mẫn, biết chữ, tự viết tay và tự ký, để lại nhà đất cho các con. Tên người trong mẫu là tên giả định, bạn thay bằng thông tin thật của gia đình mình.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
DI CHÚC
Hôm nay, ngày 20 tháng 9 năm 2026, tại nơi ở của tôi.
Tôi tên là: NGUYỄN VĂN A, sinh năm 1950. Số định danh cá nhân: (ghi theo thẻ căn cước). Nơi cư trú: (ghi đúng địa chỉ thường trú trên giấy tờ).
Trong trạng thái tinh thần hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, không bị bất kỳ ai lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép, tôi tự nguyện lập bản di chúc này để định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của tôi sau khi tôi qua đời.
I. TÀI SẢN ĐỂ LẠI
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số (ghi số giấy chứng nhận), do (ghi cơ quan cấp) cấp ngày (ghi ngày cấp), mang tên tôi. Thửa đất số (ghi số thửa), tờ bản đồ số (ghi số tờ), diện tích (ghi diện tích) mét vuông, mục đích sử dụng (ghi theo sổ). Địa chỉ thửa đất: (ghi đúng địa chỉ ghi trên giấy chứng nhận).
II. NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN VÀ PHẦN ĐƯỢC HƯỞNG
- Ông NGUYỄN VĂN B, sinh năm 1978, con trai tôi, nơi cư trú (ghi địa chỉ): được hưởng một phần hai quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với đất nêu tại Mục I.
- Bà NGUYỄN THỊ C, sinh năm 1982, con gái tôi, nơi cư trú (ghi địa chỉ): được hưởng một phần hai quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với đất nêu tại Mục I.
III. CÁC Ý NGUYỆN KHÁC
Sau khi tôi qua đời, những người có tên tại Mục II có trách nhiệm cùng nhau làm thủ tục nhận di sản theo quy định của pháp luật. Bản di chúc này gồm 02 trang, do chính tay tôi viết và ký tên. Tôi lập thành 02 bản có giá trị như nhau, tôi giữ 01 bản.
Người lập di chúc (ký, ghi rõ họ tên hoặc điểm chỉ)
NGUYỄN VĂN A
Mẫu trên không phải là một biểu mẫu do cơ quan nhà nước ban hành. Pháp luật Việt Nam không quy định một mẫu di chúc bắt buộc; Điều 631 chỉ nêu các nội dung chủ yếu, còn cách trình bày do người lập tự chọn. Vì vậy điều cần bám là nội dung, không phải bố cục.
Một số điểm cần lưu ý khi chép:
- Viết tay toàn bộ, không đánh máy. Lý do nằm ở mục tiếp theo.
- Không viết tắt. Không ghi “TP” thay cho “thành phố”, không ghi “DT” thay cho “diện tích”.
- Ghi số bằng cả chữ và số. Diện tích, phần được hưởng nên ghi kèm chữ để tránh tranh cãi về chữ số bị sửa.
- Đánh số trang và ký từng trang. Đúng theo khoản 3 Điều 631, kể cả khi chỉ có hai trang.
- Không tẩy xoá. Viết sai thì viết lại cả tờ, đừng gạch và viết chèn.
Vì sao bản tự viết bắt buộc phải tự tay viết và tự ký?

Đây là ranh giới quan trọng nhất giữa di chúc có giá trị và di chúc bị bác. Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 viết đúng một câu ngắn nhưng chặt: người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
- Tự viết nghĩa là viết tay, không phải đánh máy. Điều 634 nói về người không tự mình viết bản di chúc. Họ có thể tự đánh máy, hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Tức là đánh máy đã rơi sang loại di chúc phải có người làm chứng.
- Không được nhờ người khác chép hộ. Con cái viết hộ cha mẹ rồi cha mẹ chỉ ký vào là tình huống rất phổ biến, và nó cũng rơi sang Điều 634, cần hai người làm chứng.
- Phải ký vào bản di chúc. Điều 633 dùng chữ “ký”. Với bản có người làm chứng, Điều 634 cho phép “ký hoặc điểm chỉ”, và khoản 3 Điều 631 cũng nhắc tới chữ ký hoặc điểm chỉ ở từng trang.
- Vẫn phải tuân theo Điều 631. Câu thứ hai của Điều 633 dẫn thẳng về Điều 631, nghĩa là bản tự viết không được miễn bất kỳ yêu cầu nội dung nào.
Trong hơn 100 giao dịch chúng tôi đi qua trong hơn 15 năm, phần lớn hồ sơ nhà đất vướng thừa kế không phải vì di chúc viết sai, mà vì không hề có di chúc nào. Có một căn nhà mặt tiền ở một quận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, phân khúc trên 30 tỷ, cha mẹ mất đã lâu mà chưa ai làm thủ tục nhận di sản. Tám người liên quan, ba người sống ở nước ngoài, năm người trong nước. Việc kéo dài nhiều năm và gia đình không tự gỡ được, vì thiếu một bản di chúc thì tài sản chia theo hàng thừa kế, và mỗi bước đều cần đủ chữ ký. Một buổi chiều ngồi viết tay hai trang giấy lẽ ra đã tránh được chuyện đó.
Khi nào cần người làm chứng, và ai không được làm chứng?

Nếu bản di chúc được đánh máy, hoặc do người khác viết hộ, thì Điều 634 đặt thêm ba yêu cầu. Và Điều 632 loại hẳn một số người ra khỏi vai trò làm chứng, trong đó có đúng những người mà các gia đình hay nhờ nhất.
- Ít nhất hai người làm chứng. Điều 634 ghi “ít nhất là hai người làm chứng”. Một người là không đủ.
- Ký trước mặt người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, không phải ký xong rồi mang tới.
- Người làm chứng xác nhận rồi cùng ký. Những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
- Vẫn phải theo Điều 631 và Điều 632. Câu cuối của Điều 634 dẫn về cả hai điều này.
Điều 632 mở đầu bằng “mọi người đều có thể làm chứng”, rồi trừ ra ba nhóm:
| Nhóm bị loại | Nguyên văn Điều 632 | Thực tế hay gặp |
|---|---|---|
| Người thừa kế | Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc | Con, cháu, vợ hoặc chồng của người lập di chúc |
| Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan | Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc | Người đang cùng đứng tên tài sản, chủ nợ |
| Người chưa đủ năng lực | Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi | Cháu nhỏ trong nhà |
Nguồn: Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, đọc nguyên văn ngày 18/9/2026.
Đây là lỗi gây hỏng nhiều bản di chúc nhất trong nhóm có người làm chứng: cả nhà ngồi lại, hai người con ký làm chứng, và chính hai chữ ký đó làm bản di chúc sai hình thức. Người làm chứng nên là người ngoài, không hưởng gì từ bản di chúc, ví dụ hàng xóm lâu năm hoặc bạn của người lập.
Khi nào bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực?
Cả bài này nói rằng công chứng là quyền chứ không phải nghĩa vụ. Nhưng luật có hai chỗ ngoại lệ, và có những trường hợp nên chọn công chứng dù không bắt buộc.
- Người bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ. Khoản 3 Điều 630 buộc di chúc của họ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Đây là trường hợp bắt buộc rõ ràng nhất.
- Di chúc miệng cần bước xác nhận. Khoản 5 Điều 630 cho 05 ngày làm việc, tính từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng. Trong hạn đó, công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực phải xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
- Di chúc lập bằng tiếng nước ngoài. Khoản 5 Điều 647 quy định bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực.
- Nên công chứng khi tài sản lớn hoặc gia đình phức tạp. Đây là nhận định của MREAL, không phải quy định của luật: bản đã qua công chứng có hồ sơ lưu, có công chứng viên kiểm tra năng lực hành vi tại thời điểm ký, nên khó bị nghi ngờ hơn.
Ý cuối có căn cứ trong chính Luật Công chứng. Khoản 2 Điều 58 Luật Công chứng 2024 đặt cho công chứng viên một nghĩa vụ soi xét. Nếu thấy người lập có dấu hiệu mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, công chứng viên phải đề nghị làm rõ. Tương tự với dấu hiệu bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép. Không làm rõ được thì công chứng viên từ chối công chứng di chúc đó. Nói cách khác, bước công chứng chính là một lần kiểm tra trước điều kiện thứ nhất và thứ hai của Điều 630.
Khoản 1 Điều 58 còn nêu một quy tắc mà nhiều người không biết: người lập di chúc không được ủy quyền cho người khác mà phải tự mình ký hoặc ký và điểm chỉ vào bản di chúc được công chứng. Nếu bạn đang nghĩ tới việc nhờ người thân đi làm thay, bài ủy quyền mua bán đất giải thích ranh giới của ủy quyền trong giao dịch nhà đất.
Công chứng và chứng thực di chúc khác nhau chỗ nào?

Hai từ này bị dùng lẫn lộn khắp nơi. Với di chúc, khác biệt lớn nhất nằm ở nơi làm và ở việc ai ký xác nhận.
| Công chứng di chúc | Chứng thực di chúc | |
|---|---|---|
| Nơi làm | Tổ chức hành nghề công chứng, tức Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng | Ủy ban nhân dân cấp xã |
| Người xác nhận | Công chứng viên | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, hoặc người được ủy quyền, phân công |
| Căn cứ | Điều 58 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 | Điểm g khoản 1 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, bản hợp nhất 753/VBHN-BTP |
| Giới hạn địa bàn | Không bị giới hạn theo tỉnh có bất động sản, vì Điều 44 Luật Công chứng 2024 loại trừ di chúc | Không phụ thuộc nơi cư trú của người yêu cầu, theo điểm c khoản 5 Điều 5 bản hợp nhất |
| Thủ tục tại chỗ | Tuyên bố nội dung trước công chứng viên rồi ký, theo Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015 | Tuyên bố nội dung trước người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã rồi ký, cũng theo Điều 636 |
Nguồn: Điều 44 và Điều 58 Luật Công chứng số 46/2024/QH15; Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP bản hợp nhất 753/VBHN-BTP; Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015. Đọc nguyên văn ngày 18/9/2026.
Hai dòng cuối bảng là phần mà gần như không hướng dẫn nào trên mạng đang cập nhật, nên cần nói kỹ.
- Công chứng di chúc không bị bó trong tỉnh có nhà đất. Điều 44 Luật Công chứng 2024 đặt nguyên tắc địa hạt cho giao dịch bất động sản: công chứng viên chỉ được công chứng trong phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Ngay sau đó là cụm “trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản”. Di chúc nằm trong danh sách được trừ.
- Ngoại lệ này vẫn giữ sau 01/01/2027. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng số 04/2026/QH16 ban hành ngày 23/4/2026, có hiệu lực từ 01/01/2027, sửa Điều 44 nhưng bản mới vẫn ghi “trừ trường hợp công chứng di chúc”. Chúng tôi đọc bản đăng trên Công báo số 285 ngày 27/5/2026.
- Chứng thực di chúc không phụ thuộc nơi cư trú. Đây là thay đổi từ 01/11/2025, ngày Nghị định 280/2025/NĐ-CP có hiệu lực. Điểm c khoản 5 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP nay xếp “chứng thực di chúc, chứng thực văn bản từ chối nhận di sản” vào nhóm không phụ thuộc nơi cư trú của người yêu cầu. Bản hợp nhất chúng tôi đọc là 753/VBHN-BTP trên cổng dữ liệu của Chính phủ.
- Thẩm quyền nay thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Khoản 1 Điều 5 bản hợp nhất mở đầu bằng “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền và trách nhiệm”, thay cho cách viết cũ là Ủy ban nhân dân cấp xã. Khoản 2 cho phép ủy quyền, phân công theo pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.
Điều này rất có ích với gia đình có người thân ở xa. Cha mẹ đang sống cùng con ở tỉnh khác vẫn chứng thực được bản di chúc về căn nhà ở quê, không phải về tận nơi có nhà đất. Giao dịch chuyển nhượng thì ngược lại. Khoản 6 Điều 5 bản hợp nhất buộc chứng thực các giao dịch về quyền của người sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, trừ các trường hợp ở khoản 5. Bài thủ tục đất đai theo tỉnh và bài phí công chứng nhà đất nói thêm về phần giao dịch.
Tại chỗ, khoản 4 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP bản hợp nhất mô tả việc người chứng thực phải làm. Họ ghi lời chứng theo mẫu, ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu của cơ quan và ghi vào sổ chứng thực. Giao dịch từ 02 trang trở lên thì từng trang phải đánh số thứ tự, có chữ ký của người yêu cầu và người thực hiện chứng thực. Từ 02 tờ trở lên thì phải đóng dấu giáp lai.
Di chúc miệng có được công nhận không?

Có, nhưng cửa rất hẹp và hầu như không dùng được cho việc để lại nhà đất một cách chủ động.
- Chỉ khi không thể lập văn bản. Điều 627 đặt nguyên tắc di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Khoản 1 Điều 629 thêm điều kiện: tính mạng một người bị cái chết đe dọa.
- Cần ít nhất hai người làm chứng. Khoản 5 Điều 630 buộc người di chúc miệng nói ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng.
- Người làm chứng phải ghi chép ngay. Cũng khoản 5: ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
- Có 05 ngày làm việc để xác nhận. Mốc tính từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng. Trong hạn đó, chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng phải được công chứng viên, hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực, xác nhận.
- Tự hết hiệu lực sau 03 tháng. Khoản 2 Điều 629 ghi sau 03 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.
Có một lối đi khác cho hoàn cảnh ngặt nghèo. Điều 638 liệt kê sáu trường hợp di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực. Đó là di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên. Của người đang đi trên tàu biển, máy bay, có xác nhận của người chỉ huy phương tiện. Của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng. Của người đang khảo sát, thăm dò ở vùng rừng núi, hải đảo. Của công dân Việt Nam ở nước ngoài, có chứng nhận của cơ quan lãnh sự hoặc đại diện ngoại giao. Và của người đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc chấp hành hình phạt tù.
Sáu lỗi làm mất hiệu lực bản di chúc viết tay

Đây là phần nên đọc kỹ nhất, vì mỗi lỗi đều tra ngược được về một điều khoản cụ thể.
| # | Lỗi | Điều khoản bị phạm | Hệ quả |
|---|---|---|---|
| 1 | Đánh máy rồi ký, không có người làm chứng | Điều 633 và Điều 634 | Sai hình thức của loại di chúc tự viết |
| 2 | Nhờ con cháu viết hộ, con cháu ký làm chứng | Điều 634 và khoản 1 Điều 632 | Người thừa kế không được làm chứng |
| 3 | Chỉ có một người làm chứng | Điều 634 | Luật đòi ít nhất hai người |
| 4 | Nhiều trang nhưng không đánh số, không ký từng trang | Khoản 3 Điều 631 | Dễ bị tranh cãi trang nào là thật |
| 5 | Tẩy xoá, sửa chữa mà không ký bên cạnh | Khoản 3 Điều 631 | Phần sửa bị nghi ngờ |
| 6 | Không ghi ngày tháng năm lập di chúc | Điểm a khoản 1 Điều 631 | Không xác định được bản nào sau cùng theo khoản 5 Điều 643 |
Nguồn: Điều 631, 632, 633, 634, 643 Bộ luật Dân sự 2015, đọc nguyên văn ngày 18/9/2026.
Một điểm dễ chịu của luật: sai một phần không làm hỏng cả bản. Khoản 4 Điều 643 ghi khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. Nhưng phần di sản liên quan tới phần không có hiệu lực sẽ chia theo pháp luật, theo điểm b khoản 2 Điều 650. Nghĩa là gia đình vẫn rơi vào đúng tình huống mà bản di chúc muốn tránh.
Nếu tài sản đang đứng tên chung, hoặc đang thế chấp, còn nhiều thứ phải xử trước khi viết di chúc. Bài sổ hồng riêng, bài mua nhà sổ chung và bài giải chấp sổ đỏ nói về ba tình huống đó. Thửa đất đang có tranh chấp thì xử trước cũng tốt hơn để lại cho con cháu; bài tranh chấp đất đai chỉ cách tra.
Di chúc có cho hết tài sản cho một người được không?

Đây là câu hỏi mà bản mẫu không trả lời được, và là chỗ nhiều gia đình bất ngờ sau khi người lập mất.
- Có một nhóm người không thể bị cắt hết. Khoản 1 Điều 644 gọi tên năm nhóm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, và con thành niên không có khả năng lao động. Họ vẫn được hưởng phần bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Điều kiện áp dụng: di chúc không cho họ hưởng, hoặc cho hưởng ít hơn mức đó.
- Hai phần ba của suất chia theo pháp luật. Suất ở đây là phần mà một người thừa kế được hưởng nếu di sản chia theo pháp luật, chứ không phải hai phần ba tổng di sản.
- Có hai ngoại lệ. Khoản 2 Điều 644 nói quy định trên không áp dụng với người từ chối nhận di sản theo Điều 620, hoặc người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621.
- Người có hành vi xấu bị loại. Khoản 1 Điều 621 loại người bị kết án vì cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, hoặc ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản. Cũng loại người lừa dối, cưỡng ép, giả mạo, sửa chữa, huỷ hoặc che giấu di chúc.
Thêm hai quyền ít người dùng. Điều 626 cho người lập di chúc quyền dành một phần tài sản để di tặng hoặc thờ cúng. Điều 645 quy định phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì không được chia thừa kế. Ngoại lệ: toàn bộ di sản không đủ thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết.
Sửa, thay thế và gửi giữ di chúc thế nào?
Viết xong không có nghĩa là chốt cứng. Điều 640 cho người lập di chúc toàn quyền thay đổi.
- Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ bất cứ lúc nào. Khoản 1 Điều 640.
- Bổ sung thì hai phần ngang giá trị. Khoản 2 Điều 640 cho di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực.
- Thay thế thì bản trước bị huỷ bỏ. Khoản 3 Điều 640. Cách an toàn nhất là viết bản mới rồi huỷ bản cũ, thay vì để hai bản cùng tồn tại.
- Gửi giữ được ở tổ chức hành nghề công chứng hoặc người khác. Khoản 1 Điều 641. Người giữ bản di chúc có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung, bảo quản, và giao lại bản di chúc khi người lập chết, theo khoản 3 Điều 641.
Bản đã công chứng cũng sửa được. Khoản 4 Điều 58 Luật Công chứng 2024 cho phép yêu cầu công chứng viên của bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào làm việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ. Chỉ có một ràng buộc: nếu bản cũ đang được lưu giữ tại một tổ chức thì phải thông báo cho tổ chức đó biết. Điều 61 của luật này thêm một bước bảo mật. Khi nhận lưu giữ, công chứng viên phải niêm phong bản di chúc trước mặt người lập, rồi ghi và giao giấy nhận lưu giữ.
Có một rủi ro cần biết trước. Điều 642 nói về bản di chúc bị thất lạc hoặc hư hại kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập, mà cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực, thì coi như không có di chúc. Khi đó di sản chia theo pháp luật. Đó là lý do nên lập hai bản và nói cho ít nhất một người biết chỗ cất.
Người lập di chúc mất rồi thì gia đình làm gì tiếp
Bản di chúc không tự sang tên nhà đất. Nó là căn cứ để gia đình làm bước tiếp theo.
- Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Khoản 1 Điều 643, tức là từ thời điểm người có tài sản chết.
- Người công bố di chúc phải sao gửi cho người liên quan. Khoản 3 Điều 647 buộc sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung, sau thời điểm mở thừa kế. Khoản 4 cho người nhận bản sao quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc.
- Rồi mới tới thủ tục nhận di sản. Điểm c khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 quy định văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất được công chứng hoặc chứng thực theo pháp luật về dân sự. Bản hợp nhất mới nhất là 44/VBHN-VPQH ngày 16/3/2026.
- Thời hiệu yêu cầu chia là 30 năm với bất động sản. Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, tính từ thời điểm mở thừa kế.
Toàn bộ chặng sau nằm ở bài khai nhận di sản thừa kế: hồ sơ gồm gì, niêm yết 15 ngày ở đâu, mất bao lâu và khoản thuế nào được miễn. Nếu nhà đất để lâu chưa chia mà nay có người muốn mua, bài đất thừa kế chưa chia có bán được không giải thích vì sao hợp đồng chưa ký được. Sau khi đứng tên xong, các bước tiếp là đăng ký biến động đất đai, thủ tục sang tên sổ đỏ và chi phí sang tên sổ đỏ.
Bạn cũng có thể cho tài sản ngay lúc còn sống thay vì để lại di chúc. Bài hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất so sánh thủ tục và thuế của hướng đó. Bài lệ phí trước bạ nhà đất nói về khoản phải nộp khi sang tên. Người chuẩn bị bán nhà nên xem thêm bán nhà cần giấy tờ gì, cách kiểm tra pháp lý nhà đất và hợp đồng mua bán nhà đất.
Câu hỏi thường gặp
Di chúc viết tay có hợp pháp không? Có. Khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 công nhận di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực là hợp pháp nếu đủ các điều kiện tại khoản 1 Điều này. Điều 635 cũng chỉ nói người lập di chúc “có thể yêu cầu” công chứng hoặc chứng thực, không bắt buộc.
Di chúc viết tay không cần công chứng có được công nhận không? Được, với điều kiện người lập tự viết và ký vào bản di chúc theo Điều 633, và bản đó có đủ nội dung chủ yếu tại Điều 631. Hai trường hợp buộc phải công chứng hoặc chứng thực là người bị hạn chế về thể chất và người không biết chữ, theo khoản 3 Điều 630.
Viết di chúc có cần người làm chứng không? Không, nếu bạn tự tay viết và tự ký. Cần ít nhất hai người làm chứng khi bản di chúc được đánh máy hoặc do người khác viết hộ, theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015.
Di chúc có cần 2 người làm chứng không? Trong trường hợp phải có người làm chứng thì đúng là ít nhất hai người. Điều 634 dùng nguyên văn cụm “ít nhất là hai người làm chứng”. Một người là không đủ.
Con cái có được ký làm chứng cho di chúc của cha mẹ không? Không. Khoản 1 Điều 632 loại người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc ra khỏi diện được làm chứng. Con đẻ, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên không làm chứng được.
Di chúc có cần các con ký không? Không. Di chúc là ý chí của một cá nhân, thể hiện qua chữ ký của chính người lập. Người hưởng di sản không phải ký vào di chúc.
Chứng thực di chúc ở Ủy ban nhân dân xã nào cũng được phải không? Đúng. Từ ngày 01/11/2025, điểm c khoản 5 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, được sửa bởi Nghị định 280/2025/NĐ-CP, xếp chứng thực di chúc vào nhóm không phụ thuộc vào nơi cư trú của người yêu cầu chứng thực.
Có bao nhiêu bản di chúc thì bản nào có hiệu lực? Khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Đó là lý do bắt buộc phải ghi ngày tháng năm lập.
Ba việc làm được ngay hôm nay
- Chép lại bản mẫu ở trên bằng tay, điền thông tin thật. Lấy giấy chứng nhận ra chép đúng số thửa, số tờ bản đồ, diện tích. Viết sai thì viết lại cả tờ, không tẩy xoá.
- Đọc lại một lượt theo bảng sáu lỗi. Kiểm đủ ngày tháng năm, số trang, chữ ký từng trang, không viết tắt, không chữ số bị sửa.
- Quyết định chỗ cất và người biết. Lập hai bản, cất hai nơi, nói cho ít nhất một người đáng tin biết chỗ, để không rơi vào Điều 642 về di chúc thất lạc.
Ba việc đó mất một buổi chiều và không tốn đồng nào. Cái giá của việc không làm thì tính bằng năm, và bằng số chữ ký phải gom lại sau này.
Nội dung trên là chia sẻ kinh nghiệm, không thay thế tư vấn pháp lý. Thừa kế là chủ đề dễ phát sinh tranh chấp. Nếu tài sản lớn, gia đình có người thừa kế ở nước ngoài, có con riêng, hoặc người lập di chúc đang có vấn đề sức khoẻ, bạn nên tham vấn luật sư. Hãy kiểm tra thêm thông tin tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có thửa đất.
Về người viết bài này
Bài viết do Nguyễn Trung Ninh (nhà sáng lập), Nguyễn Thị Huyền (nhà đồng sáng lập) và đội ngũ MREAL biên soạn và kiểm chứng. Đội ngũ MREAL đã đi qua hơn 100 giao dịch bất động sản trong hơn 15 năm, ở các vị trí môi giới, chủ sàn, nhà đầu tư cá nhân, công ty đầu tư và công ty đào tạo. Căn cứ trong bài được đọc nguyên văn ngày 18/9/2026. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đọc trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật của Bộ Tư pháp. Luật Công chứng số 46/2024/QH15 đọc ở cùng nguồn. Luật sửa đổi bổ sung số 04/2026/QH16 đọc trên Công báo. Nghị định 23/2015/NĐ-CP đọc theo bản hợp nhất 753/VBHN-BTP trên cổng dữ liệu của Chính phủ. Nếu bạn phát hiện điểm nào đã thay đổi, hãy nhắn cho chúng tôi qua trang liên hệ.
🎁 TẶNG BẠN: bộ “15 năm kinh nghiệm mua bán nhà đất” — nhận miễn phí tại mục Quà tặng.
Để lại một bình luận